Nghị định 185 quy định chi tiết tiêu chuẩn của thôn, tổ dân phố theo quy mô số hộ gia đình như sau:
Hà Nội và TP.HCM: thôn phải có từ 500 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 700 hộ gia đình trở lên.
Vùng trung du và miền núi phía bắc: thôn phải có từ 150 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 300 hộ trở lên.

Vùng đồng bằng sông Cửu Long thôn phải có từ 400 hộ trở lên
ẢNH: GIA BÁCH
Vùng đồng bằng sông Hồng: thôn phải có từ 400 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ gia đình trở lên.
Vùng Bắc Trung bộ: thôn phải có từ 350 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 450 hộ gia đình trở lên.
Vùng duyên hải Nam Trung bộ và Tây nguyên: thôn phải có từ 350 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 500 hộ gia đình trở lên. Riêng các tỉnh Gia Lai, Lâm Đồng và Đắk Lắk: thôn phải có từ 300 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 450 hộ gia đình trở lên.
Vùng Đông Nam bộ: thôn phải có từ 400 hộ trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ trở lên.
Vùng đồng bằng sông Cửu Long: thôn phải có từ 400 hộ trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ trở lên.
Nghị định cũng quy định quy mô số hộ gia đình đối với thôn, tổ dân phố có yếu tố đặc thù. Trường hợp ở địa bàn biên giới, hải đảo cách xa đất liền, do việc di dân hoặc để bảo vệ đường biên giới, chủ quyền biển đảo; thôn, tổ dân phố ở các địa bàn có yếu tố đặc thù khác (ở nơi có địa hình bị chia cắt phức tạp; nằm biệt lập trên các đảo, cù lao, cồn trên sông…) thì quy mô thôn, tổ dân phố có thể thấp hơn quy định trên).
UBND cấp tỉnh quy định cụ thể quy mô số hộ gia đình đối với các thôn, tổ dân phố có yếu tố đặc thù phù hợp với điều kiện của từng địa bàn. Thôn, tổ dân phố phải có cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương để phục vụ hoạt động cộng đồng và bảo đảm ổn định cuộc sống của người dân.
Trường hợp khu vực dân cư mới hình thành chưa đủ điều kiện để thành lập thôn, tổ dân phố theo quy định thì chủ tịch UBND cấp xã ban hành quyết định ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có cho phù hợp, bảo đảm thuận lợi trong công tác quản lý của chính quyền cấp xã và các hoạt động của thôn, tổ dân phố.
Về thẩm quyền, HĐND phường, xã, đặc khu quyết định thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể, đặt tên, đổi tên tổ dân phố trên địa bàn. Những nơi không tổ chức cấp chính quyền HĐND cấp xã thì UBND cấp xã quyết định thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể, đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân phố trên địa bàn.
UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến nhân dân về việc thành lập thôn, tổ dân phố bằng hình thức phù hợp với điều kiện của địa phương theo quy định của pháp luật và có tờ trình kèm theo lên HĐND xã.
Khoán quỹ phụ cấp với người hoạt động không chuyên trách
Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố gồm các chức danh trưởng thôn hoặc tổ trưởng tổ dân phố; bí thư chi bộ; trưởng ban công tác Mặt trận có số lượng không quá 3 người.
Ngân sách nhà nước khoán quỹ (bao gồm cả hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế) để chi phụ cấp hàng tháng đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố:
Đối với thôn có từ 700 hộ gia đình trở lên; tổ dân phố có từ 1.000 hộ gia đình trở lên; thôn, tổ dân phố thuộc đơn vị hành chính cấp xã trọng điểm về quốc phòng theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; thôn, tổ dân phố thuộc đơn vị hành chính cấp xã ở khu vực biên giới, hải đảo được khoán quỹ phụ cấp bằng 8,0 lần mức lương cơ sở.
Đối với thôn, tổ dân phố không thuộc quy định trên được khoán quỹ phụ cấp bằng 6,5 lần mức lương cơ sở.
Theo đó, mức phụ cấp của từng chức danh người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố bảo đảm tương quan hợp lý với mức lương bậc 1 của chuyên viên.
Bình luận (0)